Trà Vinh: Lễ húy kỵ lần thứ 10 cố Hòa thượng Thích Lưu Đoan

12

PSO – Sáng ngày 4/10/2022, TT. Thích Tâm Chánh – Trụ trì chùa Như Pháp (ấp Bến Cát, xã Hiếu Trung, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh) cùng Môn đồ Pháp quyến thành kính thiết lễ Húy kỵ tưởng niệm lần thứ 10 ngày cố Hòa thượng Thích Lưu Đoan – Nguyên UV HĐTS, Trưởng Ban Giáo dục Phật giáo tỉnh Trà Vinh, Viện chủ chùa Như Pháp viên tịch.

Chứng minh và tham dự có HT. Thích Viên Minh; HT. Thích Phước Minh – Đồng Chứng minh BTS Phật giáo tỉnh cùng chư Tôn đức trong BTS Phật giáo tỉnh, chư Tôn đức Tăng Ni trụ trì các cơ sở tự viện trên địa bàn tỉnh và đông đảo quý Phật tử đồng tham dự

Trước Đại hùng bảo điện chư Tôn đức đã thực hiện nghi lễ bạch Phật, khai kinh tại Chánh điện. Sau đó tại Tổ đường cử hành lễ Cung tiến Giác linh, môn đồ đệ tử vân tập lễ bái, dâng hương và chúc thực lên Giác linh cố Hòa thượng Ân sư.

Thay mặt cho môn đồ pháp quyến tông môn tổ đình Như Pháp đã bày tỏ lòng tri ân của chúng đệ tử trước công ơn giáo dưỡng của Ân sư trong đường đời lẫn đường đạo. Nhân lễ tưởng niệm lần thứ 10 của Ân sư, hàng môn đồ đệ tử đã thiết lễ trai tăng, tác bạch cúng dường mười phương chư Phật, chư Tôn đức hiện tiền chứng minh cho thập phần công đức, hồi hướng đến Giác linh Ân sư nơi Phật quốc.

Ban đạo từ tại buổi lễ, HT. Thích Phước Minh đã tán thán tấm lòng hiếu hạnh của môn đồ pháp quyến.  Đồng thời Hòa thượng ôn lại những kỷ niệm khi HT. Thích Lưu Đoan còn tại thế và nhắc nhở môn đồ pháp quyến muốn tri ân Thầy tổ hãy luôn cố gắng tu tập, nỗ lực hết mình trong các công tác Phật sự, xứng đáng là người kế thừa Tổ nghiệp, hưng thịnh thiền môn. Ngài mong rằng chư Tăng Ni trong tỉnh hãy noi gương hạnh nguyện của cố Hòa thượng, Ngài là bậc trưởng thượng, huân tu đời sống phạm hạnh, lập công bồi đức, khai sơn tạo tự và cống hiến một đời cho việc hoằng dương Chánh pháp là tấm gương sáng cho hàng hậu học noi theo.

Tiểu Sử: Cố Hòa thượng Thích Lưu Đoan thế danh Phạm Xuân, người làng Hiệp Phổ Trung, xã Hành Đức, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Phạm Tùng, thân mẫu là bà Trần Thị Toản. Ngài sinh ngày 24/6/1943 (năm Quý Mùi) là con thứ trong gia đình trung lưu có truyền thống hiếu đạo sùng kính Phật pháp. Tuổi trẻ thông minh hiếu học, giữ gìn khuôn mẫu phép tắc, được bà con láng giềng thương mến.

Xuất gia học đạo :

Túc duyên sâu dày nên được sinh ra trong gia đình có truyền thống Phật giáo. Do nương vào tâm đạo của cha mẹ, Ngài thường lui tới chốn cửa thiền nghe kinh và tiếp xúc chư Tăng Ni, nhờ đó hạt giống Phật đã chuyển mình chờ duyên lành sẽ nẩy mầm sinh trưởng.

Duyên lành hội đủ, ngày 02 tháng 6 năm 1958 (Mậu Tuất) Ngài được cha mẹ cho phép theo cầu pháp xuất gia với Hòa thượng Thượng Tâm Hạ Hương hiệu Mật Hiển, trụ trì chùa Trúc Lâm Thành phố Huế, được Hòa thượng thâu nạp và ban cho pháp danh là Nguyên Chơn, hiệu Lưu Đoan.

Từ đó, chốn cửa thiền chuyên tâm học đạo, công phu công quả mọi bề được Thầy khen bạn mến. Đầu năm Tân Sửu, ngày 17/01/1961 Ngài được Hòa thượng bổn sư cho phép thọ Sa di giới tại giới đàn chùa Trúc Lâm Thành phố Huế.

Quyết tâm nỗ lực không ngừng trên đường học đạo, ngày 16 – 18 tháng 7 năm 1965 (Ất Tỵ), Ngài được thọ Tỳ kheo giới tại Giới đàn Vạn Hạnh (tổ chức ở chùa Từ Hiếu, do Hòa thượng Thượng Giác Hạ Nhiên hiệu Trừng Thủy làm Đàn đầu Hòa thượng ).

Thể hiện sự cầu tiến và quyết tâm nối truyền mạng mạch Phật pháp, Ngài còn xin phép Thầy đi tham học các nơi như Đà Nẵng, Tp Huế … với các bậc danh tăng thạc đức đương thời.

Năm 1967, Ngài dự thi tuyển vào Trường Cao đẳng chuyên khoa Phật học tại chùa Linh Quang Thành phố Huế, kết quả thi đậu vào trường thuộc loại giỏi,.

Để chuẩn bị tư lương trên bước đường hoằng pháp lợi sanh, ngoài nội minh Phật giáo, Ngài còn tham học và thông hiểu các pháp thế gian như dịch lý toán số, địa lý phong thủy… với tinh thần tùy duyên hòa hợp nhằm thích ứng hoàn cảnh và đem lại lợi ích cho việc hoằng pháp sau này.

Hóa duyên hành đạo : 

Năm 1971 Ngài tốt nghiệp Cao đẳng chuyên khoa Phật học nhưng vẫn tiếp tục tham vấn các bậc cao minh về Phật học và gần gũi Bổn sư, được truyền khế ấn Mật tông.

Năm 1972, Ngài tiếp nhận sự phân bổ của GHPG về tỉnh Vĩnh Bình làm nhiệm vụ Sứ giả Như Lai , Đặc ủy Hoằng pháp kiêm Giám học và Giáo thọ sư tại Phật học viện Khánh Hòa, chùa Phước Hòa.

Sau đó, Tăng Ni trong tỉnh Vĩnh Bình thỉnh Ngài làm Chánh đại diện Phật giáo huyện Châu Thành (nay là Thị xã Trà Vinh) và làm Phó Trụ trì chùa Long Khánh, trụ sở Giáo Hội Phật giáo tỉnh Vĩnh Bình.

Ngoài công tác Phật sự được Giáo hội giao phó, Ngài còn được Tăng Ni Phật tử thỉnh giảng tại các Trường Hạ và các đạo tràng trong tỉnh.

Năm 1974, chấp nhận gian nan thử thách với muôn vàn khó khăn giữa mưa bom bão đạn của chiến tranh tàn khốc, Ngài đến xứ Bến Cát xã Hiếu Tử huyện Tiểu Cần, tỉnh Vĩnh Bình (nay là tỉnh Trà Vinh) theo lời thỉnh mời của Phật tử kiến lập khai sơn chùa Như Pháp , hầu dem ánh từ quang của Phật thắp sáng tâm mê chúng sanh nơi vùng thôn quê hẻo lánh.

Sau 1975, Ngài tiếp tục công việc Phật sự tại tỉnh Trà Vinh và Chùa Như Pháp.

Phục hưng Phật giáo Tỉnh Trà Vinh:

Kể từ sau 1975, Ngài vẫn dõi theo từng bước thời gian nhằm tìm thời cơ thuận lợi phát dương quang đại giáo pháp Như Lai .

Sau khi Trà Vinh được tách ra từ tỉnh Cửu Long năm 1993, Ngài cùng chư Tôn đức Tăng Ni tích cực vận động, xin phép thành lập Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Trà Vinh. Khi Tỉnh hội tỉnh được thành lập, Ngài được thỉnh làm Phó Ban Trị sự kiêm Trưởng ban giáo dục Tăng Ni và cố vấn ban Đại diện Phật giáo huyện Tiểu Cần xuyên suốt 4 nhiệm kỳ.

Trong năm 1992, lo hậu sự cho Hoà thượng Bổn sư thượng Mật hạ Hiển viên mãn, Ngài được huynh đệ Tăng Ni Phật tử trong hệ phái Trúc Lâm và Chư Tôn Đức các tự viện trực thuộc môn phái Tây Thiên suy cử làm Trụ trì Tổ đình Trúc Lâm thành phố Huế, kế thừa tổ nghiệp của Bổn sư.

Năm 1998, Ngài được GHPG Việt Nam tấn phong lên hàng Giáo phẩm Thượng tọa.

Với chí nguyện lo cho sự phát triển của Phật pháp, Ngài cùng chư tôn giáo phẩm trong tỉnh Trà Vinh tích cực vận động tái thiết lại trường Phật học Trà Vinh, cái nôi của Phật giáo Miền Nam trong thời chấn hưng Phật giáo.

Năm 1999, trường Cơ bản Phật học Trà Vinh (nay là trường Trung cấp Phật học) được phép thành lập tại chùa Phước Hòa, Ngài được đề cử làm Phó Hiệu trưởng kiêm Giám luật và Giáo Thọ sư phụ trách giảng dạy Luật giới cho Tăng Ni xuyên suốt 3 khóa học.

Ban Trị sự Tỉnh hội Phật Giáo Trà Vinh khai Đại Giới đàn Khánh Hòa năm 2002, Đại Giới đàn Huệ Quang năm 2005, Đại Giới đàn Khánh Anh năm 2008 Ngài đều được thỉnh làm Yết-ma A-xà-lê để truyền trao giới pháp cho Tăng Ni tu tập.

Năm 2002, GHPG Việt Nam tấn phong Ngài lên hàng giáo phẩm Hòa Thượng.

Năm 2005, Ngài trùng tu lại chùa Như Pháp với quy mô lớn và toàn diện, làm chỗ nương tựa vững chắc cho môn đồ tứ chúng tu tập lâu dài.

Năm 2007, Ngài được GHPG Việt Nam suy cử làm ủy viên Hội đồng Trị sự TƯ GHPG Việt Nam.

Với uy tín đức độ và sự hy sinh chịu khó, Ngài không chỉ thực hiện các Phật sự lớn nhỏ trong tỉnh mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến các tỉnh khác.

Đệ tử xuất gia của Ngài gồm 26 vị hiện đa số đã là trụ trì các tự viện trong, ngoài tỉnh, tham gia và tổ chức các hoạt động Phật sự của Giáo hội Phật giáo tỉnh Trà Vinh, Phật tử tại gia trong và ngoài nước hơn 6.000 vị.

Viên mãn công hạnh: 

Sau gần nửa thế kỷ hoằng pháp lợi sanh, vì tuổi cao sức yếu nên Hòa Thượng đã lâm trọng bệnh, mặc dù đã được môn đồ pháp quyến, thế quyến, tập thể Y- Bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng Hòa Thượng đã thuận thế vô thường , thâu thần thị tịch vào lúc 7 giờ 45 phút ngày 16 tháng 10 năm 2010 (nhằm ngày mùng 9 tháng 9 năm Canh Dần), trụ thế 68 năm , hạ lạp 46 năm.

Thanh Minh